Loading...

Thứ Năm, ngày 24 tháng 2 năm 2011

Nguồn gốc cây chè và công dụng với sức khỏe


Nguồn gốc cây chè và công dụng với sức khỏe
Lê Quý Đôn:" ... Cây chè đã có ở mấy ngọn núi Am Thiên, Am Giới và Am Các, huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hoá, mọc xanh um đầy rừng, thổ nhân hái lá chè đem về giã nát ra, phơi trong râm, khi khô đem nấu nước uống, tính hơi hàn, uống vào mát tim phổi, giải khát, ngủ ngon. Hoa và nhị chè càng tốt, có hương thơm tự nhiên..."
1. Nguồn gốc cây chè:
 Theo thư tịch cổ Việt Nam, cây chè đã có từ xa xưa dưới 2 dạng :cây chè vườn hộ gia đình vùng châu thổ Sông Hồng và cây chè rừng ở miền núi phía bắc.
Chè Tuyết San ở Nghĩa Lộ - Yên Bái
Lê Quý Đôn trong sách " Vân Đài loại ngữ " (1773) có ghi trong mục IX, Phẩm vật như sau:
" ... Cây chè đã có ở mấy ngọn núi Am Thiên, Am Giới và Am Các, huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hoá, mọc xanh um đầy rừng, thổ nhân hái lá chè đem về giã nát ra, phơi trong râm, khi khô đem nấu nước uống, tính hơi hàn, uống vào mát tim phổi, giải khát, ngủ ngon. Hoa và nhị chè càng tốt, có hương thơm tự nhiên..."
Năm 1882, các nhà thám hiểm Pháp đã khảo sát về sản xuất và buôn bán chè giữa sông Đà và sông Mê Kông ở miền núi phía Bắc Việt Nam, từ Hà Nội ngược lên cao nguyên Mộc Châu, qua Lai Châu; đến tận Ipang, vùng Xípxoongpảnnả (Vân Nam), nơi có những cây chè đại cổ thụ.
" Hàng ngày những đoàn thồ lớn 100-200 con lừa, chất đầy muối và gạo khi đi và nặng chĩu chè khi về. Ipang nổi tiếng về chất lượng chè đạt mức ngự trà cống nộp .cho Hoàng đế Trung Hoa. Loại chè cao cấp này không bán ngoài thị trường..; và ai cũng cố giấu lại một phần nhỏ, mặc dù có nguy cơ bị trừng trị nặng nề. Tôi đã trông thấy một nắm chè loại này màu trắng ngà, bao gồm những cánh chè rất nhỏ và rất xoăn. Vùng đất đai của Đèo Văn Trị ở Lai Châu, là hàng xóm láng giềng gần gũi của Ipang, vùng Xíp xoongpảnnả "
Sau những chuyến khảo sát rừng chè cổ ở tỉnh Hà Giang Việt Nam (1923), và tây nam Trung Quốc (1926), các nhà khoa học Pháp và Hà Lan, đã viết "...những rừng chè, bao giờ cũng mọc bên bờ các con sông lớn, như sông Dương Tử, sông Tsi Kiang ở Trung Quốc, sông Hồng ở Vân Nam và Bắc Kỳ (Việt Nam), sông Mê Kông ở Vân Nam, Thái Lan và Đông Dương, sông Salouen và Irrawađi ở Vân Nam và Mianma, sông Bramapoutrơ ở Assam. "
Năm 1976, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, sau những nghiên cứu về tiến hoá của cây chè, bằng phân tích chất catésin trong chè mọc hoang dại, ở các vùng chè Tứ Xuyên, Vân Nam Trung Quốc, và các vùng chè cổ Việt Nam (Suối Giàng, Nghĩa Lộ, Lạng Sơn, Nghệ An...), đã viết :
… Cây chè cổ Việt Nam, tổng hợp các catêchin đơn giản nhiều hơn cây chè Vân Nam…. Từ đó có sơ đồ tiến hoá cây chè thế giới sau đây " Camellia Chè Việt Nam Chè Vân Nam lá to Chè Trung Quốc Chè Assam (ấn Độ)"
  • Tóm lại, đến nay các nhà khoa học thế giới đã xác nhận : Đại thể cây chè phát nguyên từ một vùng sinh thái hình cái quạt, giữa các ngọn đồi Naga, Manipuri và Lushai, dọc theo đường biên giới giữa Assam và Mianma ở phía Tây, ngang qua Trung Quốc ở phía Đông, và theo hướng Nam chạy qua các ngọn đồi của Mianma và Thái Lan vào Việt Nam, trục Tây Đông từ kinh độ 95o đến 120o Đông, trục Bắc Nam từ vĩ đ 29o đến 11o Bắc. Sự phát triển của cây Chè Việt Nam
a) Thời kỳ trước năm 1882
Từ xa xưa, người Việt Nam trồng chè dưới 2 loại hình:
- Chè vườn hộ gia đình uống lá chè tươi, tại vùng chè dồng bằng sông Hồng ở Hà đông, chè đồi ở Nghệ An.
- Chè rừng vùng núi, uống chè mạn, lên men một nửa, như vùng Hà Giang, Bắc Hà ...
b) Thời kỳ 1882-1945
Ngoài 2 loại chè trên, xuất hiện mới 2 loại chè công nghiệp; chè đen công nghệ truyền thống OTD, và chè xanh sao chảo Trung Quốc. Bắt đầu phát triển những đồn điền chè lớn tư bản Pháp với thiết bị công nghệ hiện đại. Người dân Việt Nam, sản xuất chè xanh tại hộ gia đình và tiểu doanh điền. Chè đen xuất khẩu sang thị trường Tây Âu, chè xanh sang thị trường Bắc Phi là chủ yếu. Diện tích chè cả nước là 13305 ha, sản lượng 6.000 tấn chè khô/năm.
c) Thời kỳ độc lập (1945- nay)
Sau 1954, Nhà nước xây dựng các Nông trường quốc doanh và Hợp tác xã nông nghiệp trồng chè; chè đen OTD xuất khẩu sang Liên Xô - Đông Âu, và chè xanh xuất khẩu sang Trung Quốc.
Đến hết năm 2002, tổng diện tích chè là 108.000 ha, trong đó có 87.000 ha chè kinh doanh. Tổng số lượng chè sản xuất 98.000 tấn, trong đó xuất khẩu  72.000 tấn đạt 82 triệu USD.
  • Các vùng Chè ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng gió mùa Đông nam á, cái nôi của cây chè.
- Khí hậu đất đai rất thích hợp với sinh trưởng cây chè. Lượng nước mưa dồi dào 1700-2000 mm/năm. nhiệt độ 21-22,6 0C, ẩm độ không khí 80-85 %. Đất đai trồng chè gồm 2 loại phiến thạch sét và bazan màu mỡ.
- Chè trồng ở vĩ tuyến B 11.5-22.5 0;, chia thành 3 vùng: vùng thấp dưới 300 m, vùng giữa 300-600 m, vùng cao 600-trên 1000 m, nên chất lượng chè rất tốt.
- Giống chè bản địa gồm 2 giống Trung Du và Shan, làm được chè xanh và chè đen; đặc biệt giống chè Shan miền núi có búp nhiều lông tuyết trắng, được thị trường quốc tế rất ưa chuộng. Ngoài ra còn những giống chè tốt làm chè đen, chè xanh, chè ô long, nhập nội của Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, ấn Độ và Srilanka, Inđônêxia.
( Trích từ "Cây chè Việt Nam" của tác giả Đỗ Ngọc Quỹ & Nguyễn Kim Phong )


2. Tác dụng của chè đối với con người.
  • Mười bốn công dụng của trà
Trên thế giới Trung Quốc là nước đầu tiên uống trà, trong thư tịch cổ của các triều đại Trung Quốc và các sách y học đều có ghi chép về phương pháp dùng chè chữa bệnh.
- Trà chống ung thư và tia phóng xạ: Trà 6 gam pha với nước sôi, uống ngày 2 đến 3 lần. Các chất như Vitamin C, chất Polyphenol và một số chất có tác dụng chống ô xy hoá có trong trà có các tác dụng ức chế các tế bào ung thư phát triển và có thể ngăn cản sự hợp thành chất Nitrosamine trong cơ thể, do đó mà hạ thấp tỷ lệ phát sinh bệnh ung thư. Các loại trà chống ung thư còn có tác dụng chống sự tổn thương của các tia (bức xạ) và tăng cao bạch cầu trong cơ thể cho nên những người bị ung thư cần phải chữa trị bằng những tia phóng xạ thì cần uống nhiều nước trà. Hoặc như hàng ngày chúng ta xem vô tuyến truyền hình, cũng như những người tiếp xúc nhiều với tia phóng xạ như sử dụng máy vi tính, máy photo, các máy điện quang… đều cần uống nhiều nước trà (nhất là trà tươi) vì rất hữu ích trong việc phòng chữa các bệnh do các tia phóng xạ, các tia tĩnh điện gây nên.
- Trà chống chứng đau bụng khi hành kinh của phụ nữ: Trà 3 gam, gừng tươi 2 lát, đường đỏ 10 gam. Đem pha nước sau 15 phút uống. Nên uống sau bữa ăn một giờ trở đi.
- Chữa đau bụng do giun đũa và đau răng: Pha 3 gam trà với nước sôi, để 5 phút sau, rót ra pha với 3 gam giấm, khuấy đều uống, ngày 3 lần.
- Chữa cảm nhiễm ở hệ tiết niệu: Trà có tác dụng lợi tiểu, ức chế khuẩn, đồng thời có thể tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể, cho nên dùng trà với lượng vừa phải sẽ hỗ trợ việc chữa trị bệnh cảm nhiễm ở hệ tiết niệu. Nếu có thể thì nên phối hợp dùng với Kim tiền thảo hoặc Hải kim sa (các vị thuốc đông y), mỗi lần 6 gam là những vị thuốc có tác dụng làm cho đường nước trong cơ thể được thông lợi, làm hết đái giắt, đái buốt, pha nước sôi uống, hiệu quả càng tốt hơn.
- Chữa trị viêm gan dạng hoàng đảm cấp tính: Trà một nhúm pha nước sôi uống ngày 2 đến 3 lần hoặc nhiều lần. Vì trà có tác dụng lợi tiểu trừ thấp, nên uống nhiều vào sẽ có tác dụng hạn chế cơ chế sinh chứng thấp nhiệt nội thịnh khi viêm gan, có thể nhanh chóng tiêu trừ hoàng đảm.
- Chữa chứng cao cholesterol trong máu: Trà một nhúm con pha nước sôi uống, ngày 2 đến 3 lần. Nhiều chất có trong trà tươi như vitamin C, Tannic axit và cafein… có trong trà có tác dụng hạ thấp cholesterol trong máu.
- Chữa chứng béo phì: Trà 3 gam, Quyết minh tử 10 gam, pha với nước sôi uống. Hiệu quả giảm.
- Chữa chứng hư suyễn (khó thở do hư, có dặc trưng thở gấp gáp, hễ cử động là khó thở tăng lên, mạch nhỏ, yếu): Có thể dùng ngân nhĩ (mộc nhĩ trắng), 3 gam thịt quả hạnh đào mười gam, đường phèn 30 gam, cho nước vào đun nước cho chín nhừ ngân nhĩ xong cho 3 gam trà vào, uống hết một lần. cứ uống như thế 7 – 10 ngày là được.
- Chữa tiêu chảy: Bị tiêu chảy kéo dài có thể dụng 6 gam trà, 2 quả ô mai, 15 gam đường đỏ pha nước để trong 10 phút uống. Mỗi ngày 2 đến 3 lần, liên tục trong 3 ngày.
- Chữa kiết lị: Sau khi bị kiết lị, có thể dùng 3 gam trà, hai quả ô mai đem pha vào ấm pha trà, để 5 phút, đổ 3 gam giấm vào, uống hết một lần. Ngày uống 3 lần như vậy.
- Chữa thực tích (ăn không tiêu): Trà mười gam, bột sơn tra sao 10 gam, đường đỏ 15 gam, pha nước sôi để 10 phút uống. Có thể chữa ăn không tiêu, bụng chướng đau, ngán không muốn không muốn ăn.
- Chữa phong nhiệt đau đầu: Đau đầu và chướng tức đến mức muốn vỡ nứt ra, mặt đỏ bừng, mắt đỏ ngàu, miệng khát nước tiểu vàng có thể pha 6 gam trà, 10 gam hoa cúc với nước sôi uống, ngày từ 2 đến 3 lần.
- Dùng cho người đang trị bệnh lao uống suốt trong thời gian uống thuốc chống lao cũng có tác dụng hỗ trợ thuốc chữa bệnh: Trà 3 – 5 gam uống hết một lần. Ngày uống 2 lần như vậy.
- Chữa cảm mạo: Pha 3 gam trà, 1 gam muối với nước sôi uống, ngày từ 4 đến 6 lần. Thích hợp với người bị cảm mạo sốt, ho, đờm vàng, đau họng. Nếu lại sợ lạnh, ho đờm trắng, có thể dùng 3 gam trà, 3 lát gừng thêm vào rồi pha nước sôi như pha trà để uống.

(Theo: Chữa bệnh bằng ăn uống trong gia đình ở thế kỷ 21 – Trung Quốc)

  • Dùng trà đen chữa bệnh ung thư:
Một công trình do các nhà nghiên cứu ở trường Đại học Rutgerbcuar Mỹ thực hiện đã khám phá rằng một hợp chất tìm thấy trong chè đen có thể tìm mục tiêu và tiêu diệt các tế bào ung thư mà không làm hại mô khoẻ mạnh xung quanh. Việc nghiên cứu những đặc tính của chè đen này là một phần của một chương trình lớn hơn – chương trình nghiên cứu các thực phẩm chức năng Pionner nhằm tìm cách xác định những lợi ích của các sản phẩm thực phẩm được lựa chọn để phòng bệnh.
Các nhà nghiên cứu báo cáo rằng khi cho hợp chất Polyphenol của chè đen vào một canh trường của các tế bào ruột kết bình thường và bị ung thư đốc chứng thì tất cả tế bào ung thư đều bị tiêu diệt trong khi các tế bào bình thường lại không bị ảnh hưởng gì. Người ta cho rằng Polyphenol nhắm vào gien có tương quan một cách đặc trưng với tỷ lệ mắc bệnh ung thư ruột kết.
Theo ông Kuang Yu Chen giáo sư hoá học và là trưởng nhóm nghiên cứu thì “ hợp chất Polyphenol rõ ràng đã làm cho các tế bào ung thư tự huỷ hoại. DNA của chúng bị chặt ra thành nhiều mảnh và làm cho các tế bào bị chết”. Nhóm nghiên cứu này nay đang tập trung làm rõ cơ chế tự huỷ hoại này.
(Theo Vatis Update: Food Procesing, Nov – Dec 2001.)
  • Phát hiện mới về công dụng của chè:
  • Đã hàng trăm năm nay, người Châu Âu và các cư dân nước Mỹ hài lòng với những chén chè đen buổi sáng tinh sương hay trong các bữa tiệc gia đình ấm cúng. Còn ở Châu Á và một số các quốc gia Trung Đông, chè xanh đã trở thành thứ nước uống truyền thống từ ngàn năm có lẻ. Người ta biết rằng ngoài tác dụng giải khát thông thường, uống trà đem lại cho con người những lợi ích rất đáng chú ý. Nhưng ít ai biết đến những tác dụng cụ thể của chè.
Theo nghiên cứu mới nhất của các nhà khoa học ở trung tâm dinh dưỡng Unilever (Vlaardingen, Hà Lan) nước chè có chứa một lượng lớn các chất chống ôxy hoá, như catechins trong chè xanh và thearuligins trong chè đen, và đây chính là nguồ sức mạnh tuyệt vời giúp con người chống lại nhiều loại bệnh tật, đặc biệt là bệnh tim. Sau khi kết quả này được công bố trên tạp chí Clinical Nutrition của Châu Âu, một loạt các bệnh viện lớn đã bắt đầu đưa chè vào danh sách những thực phẩm có tính năng bảo vệ sức khoẻ hàng đầu để khai thác triệt để những giá trị tuyệt vời của nó.
Tiến sỹ Rianne Leenen - Chủ nhiệm chương trình nghiên cứu cho biết: Những người tahm gia quá trình thử nghiệm đều được lựa chọn rất kỹ để đáp ứng đầy đủ các nguyên tắc: Đội ngũ “tình nguyện viên” này phải “dàn đều” trong độ tuổi từ 18 đến 70, phải khoẻ mạnh và không hút thuốc. Quan sát các nhà khoa học nhận thấy: Sau khi uống đều đặn mỗi ngày 3 chén nước chè, có hoặc không có sữa tuỳ thuộc khẩu vị của từng người “khối lượng” và phạm vi hoạt động của các chất chống ôxy hoá trong huyết thanh của cơ thể họ đã tăng lên rõ rệt. Bên cạnh đó nhóm nghiên cứu còn chú ý thấy tác dụng của chè xanh bao giờ cũng mạnh gấp 5 lần so với chè đen.
Mặc dù những kết quả này rất đáng biểu dương, nhà dinh dưỡng học Chiris Rosenbloom - một thành viên tích cực tham gia nghiên cứu vẫn lưu ý “khách thưởng trà” hãy chú ý đừng “tàn phá” sức mạnh của thứ nước uống thần diệu này bằng khói thuốc lá “vì nếu bạn uống ba chén trà và ba bao thuốc môi ngày, sự tăng các chất chống ôxy hoá trong cơ thể bạn vẫn cứ bằng không!”.
  • Chè giúp duy trì mật độ chất khoáng của xương trong cơ thể:
Uống chè thường xuyên trong vài năm sẽ giúp tăng cường bảo vệ mật độ chất khoáng của xương ở cả nam giới và nữ giới. Đây là kết quả nghiên cứu mới được các chuyên gia Đài Loan thực hiện.   



Thứ Sáu, ngày 04 tháng 2 năm 2011

Quá trình hình thành chè la bang

         Lịch sử trồng và phát triển cây chè ở La Bằng đã ngót nghét cả thế kỷ. Vào thời thuộc Pháp nơi đây đã có cả một đồn điền chè rộng lớn, đặt tại xóm la cút, xã La Bằng. La Bằng có địa hình nằm sát với dãy núi Tam Đảo chính vì vậy mà nơi đây có độ ẩm cao, khí hậu rất mát mẻ phù hợp cho cây chè sinh trưởng và phát triển. Trong những năm bao cấp đây là mảnh đất đầy tiềm năng bị bỏ ngỏ và trở thành một xã miền núi nghèo của huyện Đại Từ, diện tích tự nhiên là 2142 ha. Đời sống của người dân chủ yếu dựa vào trồng lúa và trồng màu. Những năm thời mở cửa cây lúa không còn chiếm sự độc tôn, cây chè đã lên ngôi. Chính từ đó mà cây chè đã đem lại cho người dân nơi đây cuộc sống ấm no và nghề làm chè bắt đầu hình thành và phát triển tù đó và cho đến ngày nay thì nghề làm chè đã trở thành một nghề mũi nhọn của người dân nơi đây.
        Hiện nay toàn xã có 220 ha đất trồng chè năng suất bình quân 98 tạ/ha. Đời sống chủ yếu của người dân chủ yếu chủ yếu dựa vào cây chè và cây lúa, đặc biệt là cây chè là cây trọng điểm phát triển nền kinh tế xoá đói giảm nghèo của người dân nơi đây, cây chè đã tạo nên một vùng lao động ổn định và là nguồn thu nhập chính cho khoảng hơn 800 hộ dân, với tổng số lao động là 1800. thu nhập của người dân từng ngày được nâng cao trung bình khoảng 1,5 triệu đồng/tháng. Đến nay toàn xã chỉ còn trên 50 hộ nghèo, và 98% số hộ có nhà xây kiên cố, trục đường chính liên xã và một số đường liên thôn đã được rải nhựa và bê tông hoá, 100% hộ dân được sử dụng điện lưới, 90% hộ dân được dùng nước sạch theo tiêu chuẩn bộ y tế, 100% các em trong độ tuổi đi học được đến trường, và có nhiều em thi đỗ đại học và cao đẳng.
       Do cây chè chiếm ưu thế trong phát triển kinh tế ở địa phương, nên từ năm 2000 đảng uỷ và chính quyền địa phương đã chú trọng và sát sao chuyển dịch cơ cấu cây trồng từ loại cây ăn quả, cây hoa màu cho năng xuất thấp, hiệu quả kinh tế thấp chuyển sang trồng chè và từng bước thay thế giống chè trung du già cỗi bằng các giống chè nhập nội : Long Vân, Keoamtich, Phúc Văn Tiên, Kim Tuyên, Bát Tiên, LDP1..., cho năng suất cao và chất lượng tốt hơn giống chè trung du. Đưa KHKT vào áp dụng cho chăm sóc chế biến chè, sản xuất chè sạch an toàn, từ những sản phẩm làm ra chưa đạt tiêu chuẩn chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm bán trôi nổi trên thị trường, nay sản phẩm đã được sản xuất theo quy trình kỹ thuật đảm bảo về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm và sản phẩm đã được đóng gói bao bì đẹp và được nhiều nơi biết đến và đặc biệt sản phẩm Trà La Bằng thông qua các hội thi về chất lượng chè, liên hoan 10 làng chè ngon nhất tỉnh Thái Nguyên, lễ hội do tỉnh Thái Nguyên đều đạt giải nhất và được đánh giá rất cao về chất lượng. Hiện nay thương hiệu chè La Bằng rất nổi tiếng trong và ngoài nước.
       Nghề chè La Bằng hình thành và phát triển trong những năm qua ngoài mang lại việc làm và thu nhập ổn định cho người dân cũng giúp chính quyến địa phương có cái nhìn mới trong việc hoặch định chính sách phát triển kinh tế mới ở địa phương thời gian qua. Nghề chè La Bằng phát triển để đảm bảo nhu cầu cuộc sống của người dân thì nay đã được Đảng uỷ chính quyền xã La Bằng xác định đây là một nghề giải quyết được nhiều việc làm ổn định tại chỗ cho người dân địa phương, tận dụng được nhiều lao động và đặc biệt còn xác định đây là một nghề mang lại sự giàu có cho người dân và thực tế đã chứng minh điều đó.
        Tóm lại: Đến nay nghề chè tại La Bằng đã tồn tại và phát triển hơn 50 năm, thực tế cho thấy nó đã đem lại cái nhìn mới để phát triển kinh tế, góp phần vào việc chuyển đổi nghành nghề địa phương, vì vậy việc hình thành làng nghề, tạo điều kiện cho làng nghề tồn tại và phát triển thương hiệu chè la Bằng là rất cần thiết của người dân, nghệ nhân và đặc biệt là cơ quan chuyên môn và chính quyền các cấp.